TUNG CLIP LÊN MẠNG XÃ HỘI SẼ BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO ?

Quyền nhân thân là quyền về hình ảnh cá nhân, đời tư cá nhân hiện đang bị sử dụng khá bừa bãi trên mạng xã hội (đặc biệt là facebook). Hành vi đăng tải hình ảnh, video clip của người khác lên mạng xã hội với bất kỳ mục đích nào đều là trực tiếp xâm phạm đến bí mật đời tư và tác động tiêu cực đến cuộc sống riêng tư của người khác. Điều này vi phạm quy định của pháp luật như thế nào? Luật sư tư vấn Trí Tâm sẽ tư vấn cho bạn đọc cụ thể qua bài viết dưới đây.

Bài viết mang tính chất dẫn cứ những Điều luật quy định về hành vi này và xử lý đối với người có hành vi vi phạm.

Hành vi phát tán clip không được xem là việc tố cáo và người phát tán không phải là người tố cáo

Đối với những hình ảnh, clip được người đăng nhằm mục đích tố giác hành vi vi phạm của người có hình ảnh và có mặt trong nội dung clip được phát tán trên mạng internet mà không được gửi đến các cơ quan chức năng để đề nghị xử lý có xem là hành vi vi phạm pháp luật thì không được xem là việc tố cáo.

Theo Luật Tố cáo 2011 có hiệu lực 01/7/2012 định nghĩa về khái niệm Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”

Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

1. Người tố cáo có các quyền sau đây:

Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

…………….

2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình

2. Người phát tán hình ảnh, clip là hành vi vi phạm và phải bồi thường thiệt hại, công khai xin lỗi

Việc tuỳ tiện đưa hình ảnh của người khác lên mạng sẽ bị coi là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm bí mật đời tư.

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 31, Bộ luật Dân sự “Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác”.

Khoản 3 Điều 31 còn quy định: “Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh

Điều 38 (BLDS). Quyền bí mật đời tư

1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Bộ luật Dân sự cũng quy định về việc bồi thường những thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Người có hành vi vi phạm phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra và phải xin lỗi, cải  chính công khai:

Điều 307. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại

3. Hành vi phát tán hình ảnh, clip có thể xem xét để xử lý Hình sự

Luật Công nghệ thông tin đã có những quy định rõ ràng, cụ thể hơn về trách nhiệm đối với việc thu thập, xử lý, sử dụng, lưu trữ thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng. Đối với việc đưa thông tin, hình ảnh trái phép lên mạng máy tính gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị xử lý hình sự theo Điều 226 Bộ Luật Hình sự:

Điều 226. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu  đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

Với những clip đánh ghen, lột quần áo mang những yếu tố nhạy cảm, phản cảm nhưng người đưa lên mạng internet phát tán đã có dấu hiệu của hành vi làm nhục người khác, xâm phạm danh dự, uy tín của người khác. Theo quy định tại Điều 121 Bộ Luật Hình sự:

Điều 121.  Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của ngƣời khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai   năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm

Đối với trường hợp người phát tán những clip mang tính chất nhằm lưu truyền và phổ biến văn hóa phạm đồi trụy thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ Theo quy định tại Điều 253 Bộ Luật Hình sự:

Điều 253. Tội truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ

1. Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có tính chất đồi truỵ, cũng như có hành vi khác truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ thuộc một trong các trừơng hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Ngoài ra, hành vi phát tán hình ảnh, clip ghi hình người khác lên mạng nhằm mục đích “tống tiến”, chiếm đoạt tài sản thì cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Hình sự:

Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác  uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm

Nhận thức được đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật sẽ ngăn chặn sớm được những hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra.

Với nhiều năm kinh nghiệm trong mọi lĩnh vực tư vấn, chúng tôi hiểu được rằng chỉ đọc qua quy định pháp luật thôi là chưa đủ, vậy nên bạn cần được tư vấn về những quy định pháp luật được hiểu như thế nào là đúng nhất, tránh hiểu sai lệch và thực hiện sai những dụng ý của nhà làm luật.

Vậy nên gọi đến tổng đài tư vấn Trí Tâm 0348361026 là rất cần thiết, để gặp Luật sư tư vấn và yêu cầu cung cấp dịch vụ hoặc gửi thư về địa chỉ Email: tuvantritam@gmail.com 

Luật sư Tư vấn Trí Tâm mong rằng sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp hơn nữa để chúng tôi được ngày càng hoàn thiện hơn.

   Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của quý khách hàng!

     Trân trọng!

Recommended For You

About the Author: Lê Phương

Hotline: 19006581
Đặt lịch Tư Vấn
Hotline 24/7: 19006581