Tội chửi bới lăng mạ người khác

tội chửi bới lăng mạ người khác

Quyền của mỗi người đối với danh dự, nhân phẩm của mình được pháp luật bảo vệ và được thể hiện trong nhiều quy định pháp luật khác nhau, từ đạo luật cao nhất là Hiến pháp cho đến các quy định pháp luật chuyên ngành. Do đó, bất kỳ hành vi nào nhằm xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm của người khác đều bị xem là vi phạm pháp luật. Sau đây, Luật Rong Ba sẽ gửi tới quý khách hàng bài viết tội chửi bới lăng mạ người khác với những nội dung đáng chú ý sau đây: 

Chửi bới lăng mạ người khác là gì?

Hiện nay trong các văn bản quy phạm pháp luật không có khái niệm thế nào là Luật lăng mạ danh dự, tuy nhiên có thể hiểu Luật lăng mạ danh dự của người khác được hiểu là hành vi cố tình truyền bá thông tin sai sự thật về người khác, xuyên tạc, bịa đặt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người đó. 

Biến tướng của hành vi này càng trở nên đa dạng hơn khi ngày nay khi nhu cầu sử dụng mạng xã hội ngày càng tăng cao, có rất nhiều kẻ lợi dụng những nền tảng như facebook, zalo, twitter để thực hiện hành vi Luật lăng mạ danh dự, nhân phẩm của người khác.

Tội chửi bới lăng mạ người khác được quy định như thế nào?

Nhằm bảo vệ một trong những quyền quan trọng nhất của công dân, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (Bộ luật Hình sự) mặc dù không có quy định cụ thể về tội chửi bới, lăng mạ người khác, tuy nhiên hành vi chửi bới, lăng mạ lại là một trong những hành vi khách quan của tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 155 như sau:

“Điều 155. Tội làm nhục người khác

Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên

b) Làm nạn nhân tự sát.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Cấu thành tội phạm tội chửi bới lăng mạ người khác 

Theo quy định trên, cấu thành tội phạm của tội này bao gồm:

1. Chủ thể của tội làm nhục người khác.

Chủ thể của tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 là các cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi luật định:

“Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”

Như vậy theo quy định trên, đối với tội làm nhục người khác, cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi vi phạm.

tội chửi bới lăng mạ người khác
tội chửi bới lăng mạ người khác

2. Khách thể của tội làm nhục người khác

Khách thể của tội làm nhục người khác là danh dự, nhân phẩm của con người được pháp luật hình sự bảo vệ. Đối tượng tác động của tội này là nhân phẩm, danh dự của người khác.

Mặt khách quan của tội làm nhục người khác

a) Hành vi khách quan

Hành vi khách quan của tội làm nhục người khác là hành vi được thể hiện bằng lời nói hoặc hành động (dùng chữ viết, đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng, đưa lên mạng xã hội,…) nhằm xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác như lăng mạ, chửi rủa,… Người thực hiện hành vi làm nhục người khác với mong muốn cho người bị hại cảm thấy bị nhục nhã. Việc cảm thấy nhục nhã có thể bị tác động bởi nhiều cách thức khác nhau như bản thân người bị hại tự cảm thấy nhục hoặc vì sự đánh giá của xã hội. 

Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực như: bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế đe dọa buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình, nhưng tất cả các hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác. Nếu hành vi đó lại cấu thành một tội riêng thì tuỳ trường hợp cụ thể người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện. Đặc trưng của hành vi này là được thực hiện một cách công khai và trước nhiều người.

b) Hậu quả

Đối với tội làm nhục người khác, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành nên tội phạm. Tội phạm được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội có lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Tuy nhiên trong thực tế, việc xác định như thế nào là xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác lại là một vấn đề phức tạp, bởi lẽ nó phụ thuộc vào nhận thức và cảm nhận của mỗi người. Có thể đối với cùng một hành vi nhưng có người thấy bình thường, có người lại cảm thấy bị làm nhục. Do đó, nếu chỉ căn cứ vào ý thức, nhận thức của người phạm tội và người bị hại thì chưa đủ để xác định hành vi đó có phạm tội hay không mà còn cần kết hợp với một số yếu tố khác như trình độ nhận thức, phong tục tập quán, địa vị xã hội, dư luận xã hội,… Trong đó dư luận xã hội trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi của người đó.

Các dấu hiệu về mặt chủ quan của tội làm nhục người khác

Người phạm tội khi thực hiện hành vi làm nhục người khác nhằm xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người bị hại. Tội làm nhục người khác được thực hiện do cố ý, nghĩa là người phạm tội ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Động cơ của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội có thể là để trả thù chính người bị hại hoặc người thân của họ, để thỏa mãn thú vui,… Do đó, tội làm nhục người khác không có trường hợp do vô ý.

Tư vấn về tội chửi bới lăng mạ người khác trên mạng xã hội thì bị xử phạt như thế nào?

Xin chào luật sư. Tôi có câu hỏi mong được sự tư vấn của luật sư. Tôi bị người khác vào trang cá nhân lấy hình ảnh về rồi người đó đăng lên facebook với nội dung xúc phạm, vu khống cho tôi tội quan hệ bất chính với chồng chị ta trong khi không có bất kỳ một bằng chứng nào. Chị ta còn lấy cả hình ảnh tôi chụp chung với chị gái để đăng kèm theo đó là những lời nhục mạ. Tôi đã phải nghỉ làm vì bị chấn động tâm lý. Sau đó chị ta còn liên tục gửi tin nhắn vào điện thoại của tôi để chửi bới, xúc phạm và đe dọa tôi. Gần đây lại tiếp tục đe dọa tôi là sẽ đăng thêm lần nữa. Tất cả tin nhắn và bài đăng đó tôi đều đã chụp lưu lại. Vậy tôi xin hỏi, tôi có thể kiện chị ta tội xúc phạm, làm nhục người khác trên mạng xã hội không. Và chị ta sẽ bị xử lý như thế nào ạ. Xin cảm ơn luật sư.

Chào bạn! 

Trường hợp của bạn Luật sư tư vấn như sau:

Về mặt pháp lý, bạn có thể nhờ các cơ quan có thẩm quyền để can thiệp, đơn giản nhất là phản ánh hành vi vi phạm đến cơ quan công an để điều tra, xử lý người vi phạm.

Hành vi của người sử dụng hình ảnh của bạn đăng lên trên mạng xã hội kèm theo lời lẽ nhục mạ và việc người đó gửi tin nhắn cho bạn với nội dung bạn cung cấp có dấu hiệu cấu thành tội  “Tội làm nhục người khác” theo quy định tại Điều 121 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a – Phạm tội nhiều lần;

b – Đối với nhiều người;

c – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d – Đối với người thi hành công vụ;

đ – Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Trên đây là nội dung tư vấn của luật sư dựa trên thông tin bạn cung cấp. Nếu còn điều gì thắc mắc cần được làm rõ bạn có thể liên hệ trực tiếp để được giải đáp.

Trân trọng!

Dịch vụ hỗ trợ khách hàng về tội chửi bới lăng mạ người khác

Tư vấn qua Tổng đài: Đây là hình thức tư vấn được nhiều khách hàng sử dụng nhất, vì bạn có thể đặt thêm các câu hỏi về Luật lăng mạ danh dự của người khác như làm thế nào để bảo vệ mình, có thể khởi kiện hay tố cáo không… Chỉ sau một vài câu hỏi của Luật Sư, vấn đề của bạn sẽ được giải quyết; bạn có thể gọi cho Luật Rong Ba vào bất cứ thời gian nào chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn cho bạn.

Tư vấn qua Email: Bạn có thể gửi Email câu hỏi về Luật lăng mạ danh dự của người khác tới địa chỉ Email của Luật Rong Ba, chúng tôi sẽ biên tập và trả lời qua Email cho bạn. Tuy nhiên việc trả lời qua Email sẽ mất nhiều thời gian và không thể diễn tả được hết ý của câu hỏi vì vậy bạn nên gọi cho Luật Rong Ba để được tư vấn tốt nhất.

Trên đây là một số khía cạnh liên quan đến tội chửi bới lăng mạ người khác. Luật Rong Ba hy vọng bài viết trên đã có thể giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn phần nào về tội chửi bới lăng mạ người khác. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tiến hành áp dụng pháp luật vào giải quyết công việc hoặc những tình huống phát sinh trong cuộc sống hàng ngày, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775