TÍNH TƯƠNG TỰ CỦA DẤU HIỆU LÀM NHÃN HIỆU

Gắn với xu thế công nghiệp hóa hiện đại hóa, việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ đóng một vai trò quan trọng. Trong đó có sự xác lập độc quyền đối với nhãn hiệu. Bài viết này sẽ cung cấp các tiêu chí đánh giá tính tương tự của dấu hiệu làm nhãn hiệu.

TÍNH TƯƠNG TỰ CỦA DẤU HIỆU LÀM NHÃN HIỆU

Khái niệm nhãn hiệu

Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT quy định: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Định nghĩa “nhãn hiệu” tại Luật SHTT đã rộng hơn so với quy định của BLDS 1995. Thuật ngữ “nhãn hiệu” thay cho “nhãn hiệu hàng hóa”. Do đó bao quát được trường hợp nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Định nghĩa cũng thể hiện chức năng cơ bản của nhãn hiệu. Đó là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ. Với một định nghĩa ngắn gọn như vậy, các quy định về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu, khả năng phân biệt của nhãn hiệu, dấu hiệu được bảo hộ như một nhãn hiệu và các dấu hiệu không được bảo hộ như một nhãn hiệu đều không được đề cập. Các nội dung căn bản này được nhà làm luật để ở nhóm các điều luật khác. Bên cạnh đó, việc quy định khái niệm nhãn hiệu như vậy có lẽ là để mở đường cho việc quy định về các loại nhãn hiệu phi truyền thống khác.

Dựa trên hệ thống các quy định pháp luật, một số các nguyên tắc cơ bản khi đánh giá tính tương tự của dấu hiệu làm nhãn hiệu như sau:

Đánh giá tính tương tự giữa các dấu hiệu được xem xét trên tất cả các khía cạnh về thị giác, thính giác, ý nghĩa của từng thành tố độc lập trong mối liên hệ với tổng thể dấu hiệu

Bản chất của quy định tại Điều 39.8(a) Thông 01/2007/TT-BKHCN là đánh giá tác động của dấu hiệu đến ấn tượng thị giác, thính giác và nội dung ý nghĩa đối với người tiêu dùng.

Việc so sánh trước hết là đối với yếu tố thành phần cấu thành nên dấu hiệu. Sau đó là đánh giá ấn tượng tổng thể chung có khả năng phân biệt với nhau không. Nói cách khác, đánh giá từng thành tố phải đặt trong mối liên hệ với tổng thể dấu hiệu. Trường hợp các dấu hiệu được so sánh chỉ bao gồm một thành tố duy nhất, thì việc đánh giá đó được xem là đánh giá tổng thể dấu hiệu đó. Tuy nhiên sự nhầm lẫn xảy ra khi chỉ cần tương tự trên một phương diện nhất định.

Khả năng nhầm lẫn của người tiêu dùng là tiêu chí quyết định trong việc đánh giá tính tương tự của dấu hiệu làm nhãn hiệu

Theo quy định tại Điều 39.8(c) Thông tư 01/2007/TT-BKHCN, nếu các dấu hiệu có thể gần giống nhau ở một tiêu chí nào đó vẫn chưa đủ cơ sở để kết luận tính tương tự giữa các dấu hiệu. Đánh giá tính tương tự của dấu hiệu làm nhãn hiệu phải đặt trong mối liên hệ với hệ quả gây nhầm lẫn của người tiêu dùng.

Khi các dấu hiệu giống nhau ở tất cả các tiêu chí so sánh đến mức người tiêu dùng cho rằng hai dấu hiệu chỉ là một đối tượng duy nhất hoặc nhầm lẫn dấu hiệu này là dấu hiệu kia. Đây là trường hợp nhầm lẫn trực tiếp.

Hai dấu hiệu là biến thể của nhau, khi dấu hiệu này chứa toàn bộ các yếu tố đặc trưng cơ bản của dấu hiệu kia và chỉ khác nhau ở những điểm không cơ bản. Người tiêu dùng sẽ cho rằng các dấu hiệu thuộc cùng một chủ sở hữu.

Tại Việt Nam, đánh giá tính tương tự phải xem xét dưới góc độ nhận thức người tiêu dùng. Đồng thời, phải dựa trên những người tiêu dùng có mối liên hệ với sản phẩm.

Cần ưu tiên đánh giá sự tương tự giữa các thành phần chủ yếu (yếu tố mạnh hay thành phần mạnh) của dấu hiệu

Thành phần chủ yếu, thành phần thứ yếu tác động khác nhau tới khả năng phân biệt của dấu hiệu. Vậy nên việc xem xét các thành phần này sẽ có sự khác nhau.

Thành phần chủ yếu của dấu hiệu được hiểu là một hoặc một số yếu tố kết hợp với nhau tạo thành một bộ phận của dấu hiệu, có tác động và ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng cảm nhận của người tiêu dùng, có tác dụng gây ấn tượng cho người tiêu dùng khi tiếp xúc với hàng hóa, dịch vụ. Thành phần chủ yếu cần phải ưu tiên đánh giá trước so với các thành phần còn lại.

Thành phần thứ yếu của dấu hiệu là các yếu tố có khả năng phân biệt thấp; không có khả năng phân biệt. Tuy vậy, khi kết hợp với thành phần khác, vẫn có sự tác động đến khả năng phân biệt. Do đó không được phép loại trừ hoàn toàn vai trò và tác động của thành phần này.

Tư vấn với luật sư

Trên đây là những quy định về cung cấp thông tin tài khoản cho ngành thuế. Nếu còn vấn đề thắc mắc vui lòng liên hệ với Tư vấn Trí Tâm.

Hotline: 0397597960.

Email: tuvantritam@gmail.com.

Địa chỉ: Tầng 2, số 107, phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.

Với đội ngũ Luật sư,công sự chuyên nghiệp, có kinh nghiệm giải quyết tất cả các lĩnh vực. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp những thắc mắc của quý khách.

Mức phí theo thỏa thuận, phù hợp với phạm vi yêu cầu của khách hàng.

Phí dịch vụ được thanh toán sau khi Luật sư cung cấp dịch vụ.

 

Recommended For You

About the Author: Thảo Luật Sư

Hotline: 19006581
Đặt lịch Tư Vấn
Hotline 24/7: 19006581