LUẬT SỞ HỮU ĐẤT ĐAI

Đất đai là tài sản vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất quan trọng và là nguồn lực phát triển đất nước. Việc pháp luật quy định về sở hữu đất đai là hành lang pháp lý để cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Sau đây, Tư vấn Trí Tâm xin phân tích và làm rõ vấn đề về Luật sở hữu đất đai theo quy định hiện hành. 

Sở hữu đất đai theo quy định của Hiến pháp 

Điều 53, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ:

“Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ”. 

Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã được xác định từ năm 1980 đến nay là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Do đó, đất đai phải thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật thì việc khai thác, sử dụng đất đai mới bảo đảm hiệu quả cao, nhằm phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước.  

Xuất phát từ quan điểm ” Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” thì nhân dân sẽ là chủ sở hữu đối với đất đai. Đất đai là thành quả của quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài của cả dân tộc. Chính bởi tinh thần đó nên đất đai không thuộc sở hữu riêng lẻ của bất cứ cá nhân nào. Nhân dân là đồng chủ sở hữu về đất đai và đất đai phực vụ cho mục đích chung toàn dân tộc, của nhân dân. 

Sở hữu toàn dân không phải là sở hữu nhà nước về đất đai. Sở hữu toàn dân về đất đai là sở hữu chung của toàn dân, nhưng có sự phân chia việc thực hành quyền sở hữu giữa người sử dụng đất và Nhà nước. Bản chất của cơ chế đó là phân chia một cách hợp lý các quyền của chủ sở hữu đất đai giữa người dân và Nhà nước, cũng như giữa các cơ quan nhà nước các cấp. Nhà nước với những đặc trưng vốn có của mình, là thiết chế trung tâm của hệ thống chính trị, là công cụ để nhân dân thực hiện quyền lực nhân dân dưới hình thức dân chủ đại diện, là chủ thể của quyền lực chính trị, là tổ chức chính trị thể hiện tập trung nhất quyền lực nhân dân; có sức mạnh cưỡng chế toàn diện, ban hành và sử dụng pháp luật để quản lý các quá trình xã hội; thông qua pháp luật mà các chủ trương, chính sách của Nhà nước được triển khai một cách rộng rãi và thống nhất trên quy mô toàn xã hội. Bởi vậy, Hiến pháp năm 2013 quy định ” Đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng nhà nước làm đại diện chủ sở hữu

Chế độ sở hữu toàn dân còn đem lại nhiều lợi ích phù hợp với đặc thù của nước ta. Với việc quy định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiếp pháp, khi đa số công dân bị bất lợi trong phân chia lợi ích từ đất đai, họ có thể yêu cầu Nhà nước sửa Luật Đất đai phục vụ mục đích chung của công dân, sửa chữa những mất công bằng trong phân phối lợi ích từ đất đai do cơ chế thị trường đem lại.

luật sở hữu đất đai

Sở hữu đất đai theo quy định của pháp luật

Điều 4 Luật đất đai 2013 quy định: 

“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”.

Như vậy, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước có quyền trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất. Sở hữu toàn dân về đất đai đem lại nhiều lợi ích phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Chế độ sở hữu toàn dân còn đem lại nhiều lợi ích phù hợp với đặc thù của nước ta. Sở hữu đất đai thuộc về toàn dân tạo điều kiện để những người lao động có điều kiện tiếp cận đất đai để tạo ra của cải và tạo ra cuộc sống ngày càng tốt hơn cho đời sống nhân dân nói chung riêng cũng như ổn định tình hình kinh tế-xã hội nói chung.. Chế độ sở hữu toàn dân nhấn mạnh quyền của người dân trong sử dụng quyền của mình để cùng nhau giải quyết các vấn đề bất đồng trong sử dụng và phân chia lợi ích từ đất. 

Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai, bao gồm:

1. Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức);

2. Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân);

3. Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;

4. Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo;

….”

Được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Đó là cơ sở đầu tiên để chủ sở hữu đất đai thuộc được hưởng một số quyền cơ bản như: 

Thứ nhất, người sử dụng đất có quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất.

Thứ hai, người sử dụng đất được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất. Khi người sử dụng đất thực hiện việc sử dụng đất vào các hoạt động như sản xuất, kinh doanh, đầu tư,… thì thành quả của các hoạt động đó người sử dụng đất đương nhiên được hưởng. 

Thứ ba, người sử dụng đất được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước làm đại diện quyền sở hữu. 

Thứ tư, người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 

Thứ năm, người sử dụng đất có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai. 

Quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai

Quyền của Nhà nước đối với đất đai

Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai. Theo quy định của luật sở hữu đất đai mới là Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể tại Điều 13 Luật đất đai 2013 quy định quyền của đại diện chủ sở hữu: 

“1. Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất.

2. Quyết định mục đích sử dụng đất.

3. Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất.

4. Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất.

…..”

Trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai

Trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai được quy định tại những quy định của Luật sở hữu đất đai mới nhất được điểu chỉnh bởi Luật đất đai 2013, cụ thể tại Điều 22 quy định: 

“1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó.

2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.

3. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.

4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

6. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.

……”

Tư vấn Trí Tâm hy vọng rằng bài viết này sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho quý khách hàng về việc tư vấn luật đất đai. Chúng tôi mong muốn sẽ giúp đỡ được Quý khách hàng giải quyết được vấn đề một cách nhanh chóng, phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm được quyền lợi của mình.

Nếu có bất cứ vướng mắc pháp lý gì về tư vấn luật đất đai hãy liên hệ với chúng tôi theo hotline: 0397597960 – 0348361026 . Rất mong được đồng hành cùng với Quý khách hàng!

Recommended For You

About the Author: Kim Anh

Hotline: 19006581
Đặt lịch Tư Vấn
Hotline 24/7: 19006581