Lập vi bằng tại Kiên Giang

lập vi bằng tại Kiên Giang

Có thể đối với nhiều người vi bằng là thuật ngữ còn khá xa lạ, tuy nhiên vi bằng lại là một loại văn bản có vai trò khá quan trọng trong các giao dịch và trong quá trình tố tụng tại Tòa án. 

Vậy một số bất cập và kiến nghị về lập vi bằng tại kiên giang được quy định như thế nào. Bài viết về lập vi bằng tại kiên giang của Công ty Luật Rong Ba giúp cho mọi người dễ dàng tiếp cận pháp luật về quy định này.

Một số bất cập trong hoạt động lập vi bằng tại kiên giang của thừa phát lại

Vai trò của vi bằng trong quá trình xét xử, thi hành án dân sự và trong đời sống xã hội

Vi bằng (công chứng thư) được quan niệm là một “sản phẩm độc quyền của riêng Thừa phát lại”. Bởi lẽ, căn cứ quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, chỉ Thừa phát lại – chủ thể duy nhất mới có quyền hạn tiến hành lập vi bằng.

Vi bằng do Thừa phát lại lập phản ánh rất nhiều sự kiện pháp lý khác nhau xảy ra trong đời sống và nội dung của nó rất đa dạng, phong phú.

Về bản chất, vi bằng là một loại văn bản pháp lý do Thừa phát lại lập dùng để ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác. Hoặc nói cách khác, “vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật”.

Vi bằng có giá trị pháp lý không chỉ trong các giao dịch dân sự mà còn là nguồn chứng cứ rất quan trọng dùng trong quá trình xét xử giải quyết các tranh chấp.

Bởi đối với giai đoạn tố tụng dân sự, chứng cứ được xác định giữ vai trò tối quan trọng và là cơ sở, là căn cứ để Tòa án quyết định vụ án. Cũng từ đó, Tòa án mới có thể xác định hậu quả pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự.

Trong xét xử giải quyết các tranh chấp, giá trị pháp lý của vi bằng thể hiện: “Vi bằng do Thừa phát lại lập là các công chứng thư, là nguồn chứng cứ quan trọng, đáng tin cậy để Tòa án sử dụng là căn cứ trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự”.

Từ đó, có thể khẳng định, vi bằng của Thừa phát lại “là nguồn chứng cứ quan trọng và rất phong phú bổ sung cho nguồn chứng cứ hiện hành, phục vụ không những cho công tác xét xử của Tòa án, mà còn phục vụ đắc lực cho cơ quan công quyền ngay từ giai đoạn điều tra”.

Vi bằng còn có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động thi hành án dân sự. Căn cứ Điều 66 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), khi phát hiện hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì đương sự có quyền yêu cầu bằng văn bản để Chấp hành viên áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự.

Tuy nhiên, để nâng cao trách nhiệm và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án thì người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của họ.

lập vi bằng tại Kiên Giang
lập vi bằng tại kiên giang

Hoạt động lập vi bằng tại kiên giang của Thừa phát lại và một số bất cập

Hiện nay, pháp luật quy định chỉ Thừa phát lại mới là chủ thể có quyền lập vi bằng. Vì vậy, đây là hoạt động đặc thù của riêng Thừa phát lại. Do nhu cầu từ thực tiễn xã hội nên nội dung vi bằng thể hiện sự phong phú trên khá nhiều lĩnh vực khác nhau.

Pháp luật quy định cho phép Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ trường hợp các việc mà Thừa phát lại không được làm, các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng, xâm phạm đời tư, đạo đức xã hội và các trường hợp pháp luật cấm; hoặc các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng, thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp hoặc các trường hợp khác do pháp luật quy định.

Ngoài ra, Thừa phát lại cũng không được phép lập vi bằng đối với các trường hợp liên quan đến quyền, lợi ích bản thân Thừa phát lại hay của những người thân thích của Thừa phát lại hoặc các vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức đang thi hành công vụ trừ trường hợp sự kiện, hành vi đó rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người yêu cầu lập vi bằng.

Các quy định điều chỉnh về việc lập vi bằng của Thừa phát lại được quy định từ Điều 25 đến Điều 29  Nghị định số 08/2020/NĐCP và các khoản 8, 9 Điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP. Trên thực tế, lập vi bằng là hoạt động chính và là nguồn thu chủ yếu của các văn phòng Thừa phát lại hiện nay.

Theo số liệu thống kê từ các văn phòng Thừa phát lại trên cả nước, hoạt động lập vi bằng với 42.911 vi bằng được lập và doanh thu gần 59 tỷ đồng (chiếm 43% tổng doanh thu).

Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án chiếm tỷ trọng nhỏ với 885 việc xác minh và 378 vụ việc trực tiếp tổ chức thi hành án, doanh thu của 02 loại công việc trên mới đạt gần 8 tỷ đồng (chiếm 6% tổng doanh thu)”.

Tuy nhiên, hiện nay, do vẫn chưa có luật về Thừa phát lại nên các quy định về hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại đang tồn tại khá nhiều hạn chế, bất cập.

Trên thực tế, do những quy định không có sự thống nhất nên dẫn đến tình trạng một số Sở Tư pháp “căn cứ vào Công văn số 1128/BTP-TCTHADS ngày 18/4/2014 của Bộ Tư pháp (về việc tổ chức thực hiện thí điểm Thừa phát lại) từ chối đăng ký các vi bằng có nội dung ghi nhận sự kiện các bên ký tên vào văn bản (hợp đồng, giao dịch không bắt buộc phải công chứng, hoặc các tờ khai, cam kết, xác nhận, trình bày…) với lý do là thuộc lĩnh vực công chứng, chứng thực.

Thực chất, các văn phòng Thừa phát lại chỉ lập vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi, chứ không chứng nhận nội dung hợp đồng, giao dịch hay chứng thực chữ ký.

Việc từ chối đăng ký một số vi bằng nêu trên, gây khó khăn rất nhiều cho các văn phòng Thừa phát lại trong quá trình hoạt động”.

Một vài kiến nghị lập vi bằng tại kiên giang

Từ thực tế hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại cho thấy, các quy định về lập vi bằng hiện vẫn còn khá nhiều hạn chế, bất cập. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại, cần thiết xem xét các giải pháp sau:

Thứ nhất, một trong những hạn chế lớn của vi bằng là vi bằng sau khi được lập chưa có hiệu lực pháp luật ngay. Bởi lẽ, như đã trình bày, pháp luật yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại phải đăng ký vi bằng với Sở Tư pháp thì vi bằng đó mới có hiệu lực pháp luật.

Theo tác giả, quy định này chưa thật sự hợp lý và ảnh hưởng không nhỏ đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể lập vi bằng.

Từ đó, tác giả cho rằng, pháp luật quy định cho Thừa phát lại quyền hạn đặc biệt được phép lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi xảy ra trong đời sống xã hội thì đồng thời với đó, Thừa phát lại cũng sẽ phải chịu trách nhiệm với nội dung vi bằng được lập.

Hơn nữa, bản chất Thừa phát lại cũng giống như Luật sư vì đều là các hoạt động độc lập, hành nghề tự do và tự chịu trách nhiệm nên họ có thể tự mình đảm nhiệm các công việc tham gia.

Ngoài ra, Văn phòng Thừa phát lại nơi nhận yêu cầu lập vi bằng thì mới là nơi phải có trách nhiệm bảo quản, lưu trữ vi bằng.

Điều này mới thực sự hợp lý và phù hợp với bản chất của vi bằng. Vì vậy, nên sửa đổi quy định hiện nay theo hướng sau khi Thừa phát lại lập vi bằng thì vi bằng sẽ có ngay hiệu lực pháp luật. Thừa phát lại lập vi bằng phải chịu trách nhiệm với nội dung vi bằng được lập.

Đồng thời, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại cũng sẽ phải chịu trách nhiệm cùng với Thừa phát lại về vi bằng đó.

Điều này vẫn đảm bảo sự chặt chẽ, tuân thủ pháp luật của vi bằng và có thể nhanh chóng, kịp thời đáp ứng nhu cầu của chủ thể yêu cầu lập vi bằng.

Ngoài ra, để Sơ Tư pháp kịp thời nắm bắt và giám sát quá trình lập vi bằng của Văn phòng Thừa phát lại thì nên tổ chức triển khai và phát triển mô hình mạng dữ liệu điện tử.

Ngay sau khi Thừa phát lại lập vi bằng, thì Văn phòng Thừa phát lại sẽ phải báo cáo các thông tin cần thiết về vi bằng vừa được lập để Sở Tư pháp kịp thời nắm bắt và giám sát.

Thứ hai, quy định tại Điều 29 Nghị định số 08/2020/NĐCP thì cá nhân, tổ chức muốn lập vi bằng sẽ phải thỏa thuận với Trưởng Văn phòng Thừa phát lại về việc lập vi bằng.

Tuy nhiên, quy định này lại tạo ra khó khăn cho Thừa phát lại và cũng không tạo thuận lợi cho khách hàng khi có nhu cầu lập vi bằng.

Vì vi bằng thường có tính khẩn cấp, tức thời nên luôn cần phải kịp thời, nhanh chóng ghi nhận lại các sự kiện, hành vi đang diễn ra. Nếu Trưởng Văn phòng Thừa phát lại không có mặt để có thể thỏa thuận với chủ thể có yêu cầu lập vi bằng thì vi bằng cũng không thể được lập. Tác giả cho rằng, quy định này là chưa thật sự thỏa đáng và gây ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng.

Mặt khác, Thừa phát lại mới là chủ thể được pháp luật trao quyền lập vi bằng. Vì vậy, nếu như cần thỏa thuận thì chỉ cần Thừa phát lại và khách hàng thỏa thuận với nhau. Thừa phát lại sẽ có thể nhanh chóng tiến hành lập vi bằng và chịu trách nhiệm về nội dung vi bằng.

Từ đó, theo tác giả, quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị định số 08/2020/NĐCP cần thiết phải được sửa đổi lại theo hướng cho phép Thừa phát lại và khách hàng có thể tự do thỏa thuận về việc lập vi bằng.

Có như vậy mới tạo nên sự chủ động trong hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại và đảm bảo tính khẩn cấp, kịp thời khi ghi nhận các sự kiện, hành vi đang diễn ra.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về một số bất cập và kiến nghị nâng cao chất lượng lập vi bằng tại kiên giang

Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về lập vi bằng tại kiên giang và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775