Doanh nghiệp chế xuất có được hoàn thuế gtgt

doanh nghiệp chế xuất có được hoàn thuế gtgt

Doanh nghiệp chế xuất là gì? Doanh nghiệp chế xuất tiếng anh là gì? các đặc điểm của doanh nghiệp chế xuất ra sao? Vậy doanh nghiệp chế xuất có được hoàn thuế gtgt được quy định như thế nào. Bài viết về doanh nghiệp chế xuất có được hoàn thuế gtgt của Công ty Luật Rong Ba giúp cho mọi người dễ dàng tiếp cận pháp luật về quy định này.

Doanh nghiệp chế xuất là gì

Doanh nghiệp chế xuất là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ về doanh nghiệp chế xuất.

Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các doanh nghiệp chế xuất với các doanh nghiệp trong thị trường Việt Nam được coi là quan hệ xuất nhập khẩu và phải theo các quy định của pháp luật về xuất nhập khẩu.

Doanh nghiệp chế xuất được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa từ khu chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài nhập khẩu vào khu chế xuất, được hưởng các ưu đãi về thuế đối với trường hợp khuyến thích, đặc biệt khuyến khích đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Doanh nghiệp chế xuất tiếng Anh là : Enterprise Processing Export (EPE)

Tìm hiểu doanh nghiệp chế xuất có được hoàn thuế gtgt

Hoàn thuế giá trị gia tăng doanh nghiệp chế xuất nhập khẩu ?

Căn cứ Khoản 20 Điều 5 Luật Thuế GTGT năm 2008 quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT:

“Hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam; hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu;nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất, gia công xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài; hàng hóa, dịch vụ được mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan và giữa các khu phi thuế quan với nhau.”

Căn cứ Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 của Chính Phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định:

“4. Quyền nhập khẩu là quyền được nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam để bán cho thương nhân có quyền phân phối hàng hóa đó tại Việt Nam; bao gồm quyền đứng tên trên tờ khai hàng hóa nhập khẩu để thực hiện và chịu trách nhiệm về các thủ tục liên quan đến nhập khẩu. Quyền nhập khẩu không bao gồm quyền tổ chức hoặc tham gia hệ thống phân phối hàng hóa tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.”

Căn cứ Điều 42 Thông tư số 196/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính về thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại hướng dẫn:

“Điều 42. Thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu của DNCX

Đối với hàng hóa DNCX nhập khẩu từ nước ngoài, từkho ngoại quan, từ DNCX khác…

c) Trường hợp hàng hóa nhập khẩu theo mục đích là mua bán (quyền nhập khẩu), DNCX làm thủ tục hải quan như thủ tục hải quan nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài theo hợp đồng mua bán (kê khai tính thuế nhập khẩu, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), thuế bảo vệ môi trường (nếu có)).”

Công văn số 1350/TCT-KK ngày 23/4/2014 của Tổng cục Thuế hướng dẫn Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc xử lý hoàn thuế GTGT khâu nhập khẩu nộp thừa.

– Công văn số 5554/TCHQ-TXNK ngày 19/5/2014 của Tổng cục Hải quan hướng dẫn Cục Hải quan các tỉnh, thành phố về việc hoàn thuế GTGT hàng nhập khẩu nộp thừa.

doanh nghiệp chế xuất có được hoàn thuế gtgt
doanh nghiệp chế xuất có được hoàn thuế gtgt

Điều kiện để doanh nghiệp chế xuất được áp dụng thuế giá trị gia tăng 0%

Theo Tổng cục Hải quan, Điều 3 Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 quy định thì hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 Luật này; khoản 20 Điều 5 Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 cũng quy định hàng hóa, dịch vụ được mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan và giữa các khu phi thuế quan với nhau thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Tại Khoản 20 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định hàng hóa, dịch vụ được mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan và giữa các khu phi thuế quan với nhau thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Cũng tại Điều 9 Thông tư 219/2013/TT-BTC quy định:

“1. Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ờ nước ngoài và ở trong khu phi thuế quan; vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu, trừ các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% hướng dẫn tại Khoản 3 Điều này. Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu là hàng hóa, dịch vụ được bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan; hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật… đ) Các hàng hóa, dịch vụ khác: Hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan”.

Cũng tại Điều 2 Thông tư 25/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định việc hoàn thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Bên cạnh đó, theo hướng dẫn tại công văn 12366/BTC-TCHQ ngày 17/9/2013 của Bộ Tài chính về thủ tục áp dụng đối với trường hợp hàng hóa không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT và thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp nội địa để xây dựng nhà xưởng, văn phòng cho doanh nghiệp chế xuất.

Trường hợp doanh nghiệp chế xuất có được hoàn thuế gtgt trong giai đoạn xây dựng?

Bộ Tài chính cho hay, đến nay Bộ Tài chính tiếp tục nhận được các kiến nghị, vướng mắc của các doanh nghiệp, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố liên quan đến dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 134/2016/NĐ-CP. Để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và tạo thuận lợi thu hút nguồn vốn đầu tư FDI mới, Bộ Tài chính tiếp tục đề xuất sửa đổi tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Về bổ sung điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan đối với khu phi thuế quan là doanh nghiệp chế xuất (DNCX) và áp dụng chính sách thuế đối với DNCX.

Theo Bộ Tài chính, thực tế hiện nay phát sinh 2 vướng mắc: vướng mắc về việc xác nhận khả năng đáp ứng điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP. Vướng mắc về việc áp dụng cơ chế thực hiện đối với doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhưng chưa được công nhận là doanh nghiệp chế xuất.

Dự thảo Bộ Tài chính nêu rõ, hiện nay, một số doanh nghiệp đã được cơ quan đăng ký đầu tư cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong đó ghi rõ khi đáp ứng đủ điều kiện về doanh nghiệp chế xuất theo quy định của pháp luật Việt Nam thì mới được công nhận là doanh nghiệp chế xuất hoặc doanh nghiệp được áp dụng cơ chế đối với khu chế xuất theo quy định của pháp luật. Vì vậy, các doanh nghiệp chưa được cơ quan hải quan xác nhận về khả năng đáp ứng điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan nên chưa được áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan.

Do đó, khi nhập khẩu hàng hoá trong giai đoạn xây dựng nhà máy, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện kê khai nộp thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng theo quy định. Đồng thời, khi doanh nghiệp đã được cơ quan hải quan xác nhận là đáp ứng điều kiện kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan thì các DNCX này cũng không thuộc đối tượng được hoàn thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng đã nộp trong quá trình xây dựng dự án (do không thuộc các trường hợp được hoàn thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế số 107 và không được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định pháp luật thuế giá trị gia tăng).

Dự thảo Bộ Tài chính đưa ra 2 phương án sửa đổi. Phương án 1: Doanh nghiệp chế xuất đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành và đang trong quá trình xây dựng nhưng chưa được áp dụng chính sách khu phi thuế quan từ thời điểm cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản xác nhận của cơ quan đăng ký đầu tư, doanh nghiệp được xử lý số thuế nộp thừa đối với số tiền thuế đã nộp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Phương án 2 giữ nguyên nội dung doanh nghiệp chế xuất đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành và đang trong quá trình xây dựng thì thực hiện theo các thủ tục quy định tại khoản 4 Điều này.

Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho rằng, nếu thực hiện theo phương án 1 đảm bảo xử lý triệt để các vướng mắc trên thực tế như đã nêu trên. Hiện nay, có một số doanh nghiệp đã nộp thuế nhập khẩu và thuế GTGT nhưng chưa được hưởng chính sách thuế của khu phi thuế quan. Khi cho phép các doanh nghiệp này được xử lý hoàn trả thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng nếu đáp ứng các điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan sẽ đảm bảo công bằng với các DNCX khác đã được hưởng chính sách ưu đãi khu phi thuế quan ngay từ khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư.

Với phương án 2, sẽ không phải hoàn trả số thuế doanh nghiệp đã nộp do chưa được hưởng chính sách thuế của khu phi thuế quan nhưng sẽ gặp phản ứng khiếu nại của các doanh nghiệp. Hiện nay Hiệp hội doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản…đã kiến nghị lên Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam (VBF) và Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời phương án này chưa xử lý được hết các tồn tại đang phát sinh hiện nay nên có thể sẽ phải tiếp tục trình Thủ tướng Chính phủ để xem xét miễn thuế, hoàn thuế cho các doanh nghiệp đã được xác nhận là DNCX.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về doanh nghiệp chế xuất có được hoàn thuế gtgt. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về doanh nghiệp chế xuất có được hoàn thuế gtgt và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775