An treo có được đi khỏi địa phương không

an treo có được đi khỏi địa phương không

Nhiều người phạm tội nhưng có tình tiết giảm nhẹ nên đã được hưởng án treo. Tuy nhiên, án treo không có nghĩa là thoát khỏi hình phạt mà người đó sẽ bị giám sát, đánh giá cuộc sống hàng ngày xem liệu có tiến bộ hay không. Một trong những yếu tố được quan tâm là người được hưởng án treo phải có mặt tại nơi cứ trú. Vậy người đang hưởng an treo có được đi khỏi địa phương không? Hãy cùng Luật Rong Ba tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

Căn cứ pháp lý

Bộ luật hình sự 2015

Luật thi hành án hình sự 2010

Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP

Thông tư 35/2014/TT-BCA

Nghị định 61/2000/NĐ-CP

Nội dung tư vấn về an treo có được đi khỏi địa phương không

Án treo và những điều cần biết

Theo Điều 1, Nghị quyết số 02/2018 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.”

Như vậy, án treo là một biện pháp thay thế cho hình phạt tù khi có đủ những điều kiện nhất định và Tòa án xét thấy không cần phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội mà vẫn có thể cải tạo được tòa án có thể miễn chấp hành tại trại giam mà có thể tự cải tạo dưới sự giám sát, quản lý và giáo dục tại địa phương cư trú của chính quyền sở tại.

Theo bộ luật hình sự 2015 (điều 65), thì án treo là một hình phạt dành cho người phạm tội. Theo đó, nếu có đủ các điều kiện sau thì người phạm tội sẽ được hưởng án treo:

Mức án cho hành vi không quá 3 năm

Người phạm tội có nhân thân tốt

Người phạm tội được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định

Người được hưởng án treo sẽ phải chịu sự giám sát, đánh giá của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc của chính quyền địa phương nơi sinh sống.

Người đang hưởng án treo tạm thời đi khỏi nơi cư trú

Để trả lời cho câu hỏi: an treo có được đi khỏi địa phương không?

Theo khoản 3 Điều 64 Luật thi hành án hình sự 2010 thì nếu người hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 01 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật này và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.(Khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự 2010)

Tuy nhiên từ ngày 01/01/2021, Luật Thi hành án hình sự 2019 có hiểu lực vấn đề đi khỏi địa phương (nơi cư trú) của người hưởng án treo được quy định cụ thể, chặt chẽ hơn, tạo điều kiện để người giám sát, giáo dục người hưởng án treo thực hiện công việc tốt hơn.

Theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự 2019, người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

an treo có được đi khỏi địa phương không
an treo có được đi khỏi địa phương không

Người hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách

Như vậy, theo như phân tích trên, Luật Thi hành án 2019 đã quy định rằng người hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cứ trú nếu có lý do chính đáng và được sự đồng ý, cho phép của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục. Thời hạn vắng mặt được thưc hiện theo quy định nêu trên

Người được hưởng án treo vẫn có thể đi khỏi địa phương nơi đang cư trú để thực hiện công việc cần thiết trong thời gian ngắn, tuy nhiên cần tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật.

Luật thi hành án hình sự quy định:

Điều 64. Nghĩa vụ của người được hưởng án treo

….

Trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 01 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng.

Như vậy, việc đầu tiên người hưởng án treo cần làm khi đi khỏi nơi cư trú là khai báo tạm vắng. Ngoài ra, còn phải xin phép, báo cáo trực tiếp vơi cơ quan, đơn vị đang quản lý mình (điều 4 nghị định 61/2000/NĐ-CP):

Điều 4. Người được hưởng án treo có nghĩa vụ:

Trong trường hợp người được hưởng án treo đi ra khỏi nơi cư trú:

a) Nếu là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương, thì phải xin phép Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi mình làm việc, đồng thời báo cho cảnh sát khu vực, công an xã hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản nơi mình cư trú;

b) Nếu là người đang học tập tại các cơ sở giáo dục, đào tạo thì phải xin phép cơ sở giáo dục, đào tạo nơi mình học tập, đồng thời báo cho cảnh sát khu vực, công an xã hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản nơi mình cư trú;

c) Nếu là người được giao cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn giám sát, giáo dục thì phải báo cáo với người trực tiếp giám sát, giáo dục mình. Trong trường hợp đi khỏi nơi cư trú trên 30 ngày, thì phải báo cáo bằng văn bản với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn giám sát, giáo dục mình, trong đó ghi rõ thời gian vắng mặt, nơi đến tạm trú;

d) Trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 7 của Điều này, nếu người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú qua đêm, thì khi đến nơi phải trình báo ngay và nộp sổ theo dõi người được hưởng án treo cho cảnh sát khu vực hoặc công an xã nơi đến tạm trú.

Ngoài việc xin phép và khai báo tạm vắng tại địa phương nơi đang sinh sống, người hưởng án treo còn phải trình báo và nộp sổ theo dõi cho cảnh sát khu vực, công an xã nơi người đó đến tạm trú.

Người đang hưởng án treo thay đổi nơi cư trú

Người đang hưởng án treo: là trường hợp bị hạn chế thay đổi nơi cư trú (theo điều 4, thông tư 35/2014/TT-BCA):

Điều 4. Các trường hợp tạm thời chưa được giải quyết thủ tục thay đổi nơi cư trú

Người dưới đây, trong thời gian bị hạn chế quyền tự do cư trú thì tạm thời chưa được giải quyết thủ tục thay đổi nơi cư trú (trừ trường hợp có sự đồng ý cho thay đổi nơi cư trú bằng văn bản của cơ quan đã áp dụng biện pháp đó):

….

b) Người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án, được hưởng án treo hoặc đang được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang bị quản chế;

Theo quy định trên, người đang hưởng án treo muốn thay đổi nơi cư trú, đến sinh sống ở nơi khác thì sẽ phải xin phép Tòa án đã ra bản án, quyết định cho hưởng án treo. Chỉ khi được cho phép thì lúc đó người hưởng án treo mới có thể thay đổi nơi cư trú.

Xử lý hành vi vi phạm khi người hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú

Người hưởng án treo sẽ bị xử phạt hành chính theo nghị định 167/2013 /NĐ-CP nếu vi phạm nghĩa vụ lần đầu:

Điều 14. Vi phạm các quy định về tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, thi hành các biện pháp xử lý hành chính

Phạt tiền từ 2.000.000 đến 3.000.000 đối với một trong những hành vi sau đây:

c) Người bị phạt tù cho hưởng án treo, người bị án phạt cải tạo không giam giữ mà không thực hiện nghĩa vụ của người chấp hành án theo quy định; không có mặt theo yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự, Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục mà không có lý do chính đáng hoặc đi khỏi nơi cư trú mà không được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã;

Nếu người hưởng án treo vi phạm đến lần thứ 2 thì có thể sẽ bị buộc phải chấp hành án phạt tù, không còn cho hưởng án treo (theo nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP):

Điều 10. Trường hợp người được hưởng án treo bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo do cố ý vi phạm nghĩa vụ

Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên.

Lưu ý là người hưởng án treo có rất nhiều nghĩa vụ, và xin phép khi đi khỏi nơi cư trú chỉ là một trong các nghĩa vụ đó. Vi phạm bất kỳ nghĩa vụ gì đến lần thứ 2 hoặc vi phạm 2 nghĩa vụ thì đều có thể bị buộc chấp hành án phạt tù. Nên ít nhất, nếu muốn đi đâu xã thì cũng nhớ phải xin phép nhé.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về an treo có được đi khỏi địa phương không. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về an treo có được đi khỏi địa phương không và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm. 

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775